12 triệu tỷ thế chấp đo bản vị của tín dụng, không đo rủi ro ngân hàng
Mười bảy ngân hàng đang giữ hơn 12 triệu tỷ đồng bất động sản làm tài sản thế chấp. Riêng Agribank ôm 3,58 triệu tỷ, gần một phần ba cả nhóm. Nửa năm nay con số đó phình thêm 626 nghìn tỷ.
Đọc lướt thì tưởng ngân hàng đang ôm một núi nhà đất, nghe hơi rợn, kiểu sắp vỡ nợ tới nơi. Thực ra con số đó không đo cái người ta tưởng.
Nó đo kích thước của cái nền mà tiền vay cả nước đang đứng lên.
Thử đặt cạnh nhau. Tổng dư nợ tín dụng của cả nền kinh tế là khoảng 20 triệu tỷ. Riêng phần bất động sản cắm ở 17 ngân hàng đã hơn 12 triệu tỷ. Nghĩa là quá nửa số tiền vay của cả nước đang tựa lưng vào giá đất. Ở Việt Nam, muốn vay được tiền thì gần như phải có miếng đất để cắm; ngân hàng muốn bơm thêm tín dụng thì trong sổ phải có thêm chừng đó giấy đất ghi vào cột tài sản đảm bảo. Cho nên cái nền ấy buộc phải nở ra mỗi năm. Tín dụng không thể tăng nếu giá đất đứng yên, chứ đừng nói đi xuống.
Đây mới là chỗ đáng ngẫm.
Cái nền lớn nhất hệ thống ấy tự nó lại không nuôi nổi lãi của chính khoản vay cắm nó. Một căn chung cư vài tỷ ở Hà Nội hay Sài Gòn, cho thuê cả năm được chừng ba phần trăm giá trị. Còn lãi vay mua nó thì cái gọi là ưu đãi chỉ ngọt được năm đầu, hết hạn là quay ra ngược đãi, thả nổi lên mười hai, mười bốn, con nào lỡ nhóm nợ xấu thì mười lăm, mười tám phần trăm cũng có. Tức tài sản đẻ ra ba đồng mà khoản nợ đè lên nó đòi tới mười hai, mười lăm đồng. Phần chênh đó móc ở đâu ra? Từ tiền lương của người vay, hoặc từ túi lớp người mới bước vào cắm đầu chịu lãi thay lớp cũ. Giá đất đứng được không phải nhờ nó sinh ra tiền, mà nhờ một niềm tin chung rằng nó sẽ không được phép hạ.
Vậy ai cần cái niềm tin đó?
Ngân hàng cần trước tiên, và cần hơn cả người mua nhà. Vì giá đất chính là giá của khoản vay họ đã cho. Một căn thế chấp định giá ba tỷ, con nợ vỡ, phát mãi mãi không ai mua, hạ giá xuống thì phần chênh biến thành nợ mất vốn nằm trên sổ. Giá đất rớt một nhịp là cả cuốn sổ nợ rớt theo. Cho nên cái câu bất động sản làm gì thì làm vẫn phải được giải cứu, vì nó không phải hàng hoá thường mà là vốn, sụp thì tất cả sụp, không phải một lời than. Đó là mô tả một ràng buộc.
Bởi ở ta, đất không chỉ là chỗ để ở. Đất là bản vị của đồng tín dụng. Thứ mà nhà nước vừa cấp quyền sử dụng, vừa định giá khung, vừa thu hồi được, khác hẳn vàng. Đã trót lấy đất làm bản vị thì giữ giá đất không còn là một lựa chọn để cân nhắc, mà là điều kiện sống của toàn bộ hệ nợ. Người cầm lái không giữ giá vì thương ai. Họ giữ vì buông tay ra thì cả cỗ máy tắt. Ở vị trí đó, thật ra khó trách họ chọn khác.
Mà giá có muốn xuống cũng khó, vì bản thân người cầm nhà cũng chẳng ai chịu bán rẻ. Cứ thử hỏi mua mà xem, căn nào cũng treo giá trên trời, trả thấp một tí là chủ nhà cười khẩy quay đi, giá đấy, không bớt một đồng. Nhà đất chỉ chịu hạ đúng vào lúc chủ của nó kẹt tiền, bị ngân hàng gọi điện dí đít mỗi sáng, buộc cắt lỗ bán tháo cho kịp đáo hạn. Nghĩa là giá chỉ giảm khi có người sắp chết đuối, chứ chẳng ai tự nguyện dìm giá nhà mình. Một thị trường muốn nó rẻ thì phải ngồi chờ chủ nhà gặp nạn, nghe thôi đã thấy lành mạnh cỡ nào.
Nên cũng đừng ngồi mong giá đất lõi sập một phát ba chục phần trăm cho dễ mua. Chừng nào người đi làm còn gồng được cái lãi mười hai phần trăm cho tài sản đẻ ra ba phần trăm, cái nền còn đứng. Nó chỉ nứt ở chỗ không còn ai gồng nổi. Mà tới lúc đó thì bạn cũng chẳng còn tâm trạng nào mà đi bắt đáy.
Con số 12 triệu tỷ, hoá ra, không phải để ta lo giùm ngân hàng.
Nó để đo xem sức của người đi làm còn đỡ được cái nền to tới đâu.